Liên kết website
Bản đồ du lịch
Ban do du lich
Cập nhật: 05/01/2017
Bản sắc văn hóa Bắc Ninh - Kinh Bắc thời đổi mới
Bắc Ninh - Kinh Bắc được sử sách và dân gian ca ngợi là vùng đất “địa linh nhân kiệt” và ngàn năm văn hiến. Quả vậy, trong tiến trình lịch sử dân tộc ta, các thế hệ người dân Bắc Ninh từng nổi tiếng chịu khó, năng động, sáng tạo trong lao động; tôn sư trọng đạo, thông minh hiếu học; yêu nước cách mạng, anh hùng đánh giặc; không những túc nho bác học, mà còn giàu tính văn chương nghệ thuật dân gian; trong quan hệ, giao tiếp ứng xử thì lịch sự, tế nhị, nặng tình, trọng nghĩa... đã làm nên bản sắc văn hóa xứ Kinh Bắc - Bắc Ninh và để lại kho tàng di sản văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng to lớn, quý giá.

 Lễ hội làng Diềm.

 

Di sản văn hóa, cốt lõi của bản sắc văn hóa Bắc Ninh - Kinh Bắc

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” năm 1998 đã chỉ rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”. Hiện nay, kho tàng di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) của tỉnh Bắc Ninh, do cộng đồng nhân dân sáng tạo ra trong lịch sử là vô cùng to lớn và phong phú: Đầu tiên phải kể đến là hệ thống di tích đình chùa cổ kính thâm nghiêm. Bắc Ninh là một trong những tỉnh có số lượng di tích lớn nhất nước. Nhiều di tích nổi tiếng như: chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ Pháp là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước ta; chùa Bút Tháp công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của hai thời Lê - Nguyễn; chùa Phật Tích, chùa Dạm là những Đại danh lam cổ tự thời Lý; đền Đô nơi tôn thờ Bát vị Tiên Vương nhà Lý có công khai mở nền văn minh Đại Việt; Văn Miếu Bắc Ninh nơi tôn vinh truyền thống hiếu học khoa bảng và ghi danh gần 700 vị đỗ đại khoa; lăng Kinh Dương Vương thờ phụng Thủy tổ dân tộc có công khai mở đất nước; đền Vua Bà thờ Thủy tổ Quan họ; đền Cao Lỗ Vương thờ Tổ ngành quân khí; đền Lê Văn Thịnh thờ “Trạng nguyên” khai khoa đầu tiên; đền Xà với bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” là bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên khẳng định chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Đại Việt... Cùng với những lễ hội lớn mang quy mô vùng, miền như: hội chùa Dâu, hội Lim, hội Diềm, hội Phật Tích, hội đền Đô, hội Thập Đình, hội đền Cao Lỗ Vương... hàng năm đón hàng ngàn vạn du khách trong nước và quốc tế về tham quan, còn có hàng trăm ngôi đền, đình, chùa của các làng xã là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh của cộng đồng với nghi thức tín ngưỡng, lễ hội diễn ra quanh năm, ở đó hội tụ, kết tinh và tỏa sáng bề dày lịch sử, văn hóa, những thuần phong mỹ tục của quê hương, đất nước. Bắc Ninh - Kinh Bắc còn được ca ngợi là “vùng đất trăm nghề”: Xưa xứ Kinh Bắc có tới hàng trăm làng nghề. Nay tỉnh Bắc Ninh có 120 làng nghề, trong đó có 62 làng nghề truyền thống, nhiều làng nghề nổi tiếng như: gỗ mỹ nghệ Phù Khê, Đồng Kỵ (Từ Sơn); gò đồng Đại Bái (Gia Bình); giấy Đống Cao, Châm Khê (TP. Bắc Ninh), gốm mỹ nghệ Phù Lãng (Quế Võ); tre trúc Xuân Lai (Gia Bình); sắt thép xây dựng Đa Hội (Từ Sơn)... Sản phẩm của các làng nghề này không những nổi tiếng trong nước, mà còn có thương hiệu trên thị trường quốc tế. Bắc Ninh còn là cái nôi của Nho học khoa bảng: Ngót nghìn năm khoa bảng phong kiến, xứ Kinh Bắc có tới gần 700 vị đỗ đại khoa và hàng nghìn cử nhân, tú tài và đã để lại truyền thống hiếu học tôn sư trọng đạo trong con người Bắc Ninh, cùng những di sản văn hóa quý giá như: Văn Miếu Bắc Ninh, Văn chỉ ở các làng xã có nhiều người đỗ đạt; kho tàng thư tịch sử sách quý về lịch sử, chính trị, quân sự, văn thơ, y dược... Bắc Ninh còn nổi tiếng là vùng đất của văn hóa văn nghệ dân gian: Quan họ, tuồng, chèo, ca trù, trống quân, rối nước... trong đó dân ca Quan họ Bắc Ninh là loại hình nghệ thuật độc đáo đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại... Kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị to lớn nói trên là cốt lõi bản sắc văn hóa Kinh Bắc - Bắc Ninh, trở thành tài sản vô cùng quý giá, một trong những tiềm năng nội lực về vật chất và tinh thần để tỉnh Bắc Ninh bước vững chắc trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa.  

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngược dòng thời gian, năm 1997 tỉnh Bắc Ninh khi mới tái lập đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thánh. Trong bối cảnh cùng với cả nước vừa bước ra khỏi chiến tranh và cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đời sống văn hóa vật chất của xã hội nói chung còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn; đời sống văn hóa tinh thần còn nghèo nàn và thể hiện rất rõ ở các làng quê như: các thiết chế văn hóa tâm linh (đình, đền, chùa) trong những năm chiến tranh chống Pháp và Mỹ bị phá hoại nặng nề, tiêu điều, phờ phạc; các thiết chế văn hóa mới như nhà văn hóa, câu lạc bộ, sân thể thao chưa có điều kiện kinh phí để xây dựng quy mô, nên nhỏ bé tạm bợ... Trong khi đó, với mặt trái của kinh tế thị trường, làn sóng văn hóa “thực dụng, ngoại lai” đang có nguy cơ len lỏi trong đời sống xã hội. 

Bước vào thời thời kỳ đất nước đổi mới, quán triệt Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, ngay sau khi tái lập tỉnh Bắc Ninh (1997), Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Ninh, các cấp ủy Đảng và chính quyền nhân dân địa phương rất quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, trong đó có bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Tỉnh triển khai thực hiện Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2001 và các văn bản hướng dẫn dưới luật. Bắc Ninh là tỉnh sớm đi đầu cả nước trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Quyết định số 143/QĐ-UBND ngày 10-6-2008 về Quy chế quản lý và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Bắc Ninh... Ngày 23-11-2012, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định số 108/2012/QĐ - UBND về việc “Phê duyệt Quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”.

Hiện trên địa bàn toàn tỉnh có 100% các di tích được xếp hạng đã thành lập Ban quản lý di tích địa phương, huy động được cả hệ thống chính trị và cộng đồng nhân dân địa phương vào việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Tỉnh đã quan tâm lớn đến việc lập các đề án, dự án, quy hoạch, kế hoạch và tổ chức triển khai việc trùng tu tôn tạo di tích; thống kê kiểm kê di tích; lập hồ sơ xếp hạng di tích các cấp, bảo vật Quốc gia. Từ nguồn vốn kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa và nguồn đầu tư Xây dựng cơ bản, tỉnh đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho hoạt động bảo tồn di tích; đã có hàng trăm di tích của các làng xã được hỗ trợ kinh phí trùng tu tôn tạo, chống xuống cấp, đặc biệt tập trung cho những di tích tiêu biểu như: chùa Dâu, chùa Bút Tháp, Văn Miếu... Công tác kiểm kê và xếp hạng di tích được triển khai tích cực: Theo số liệu của cơ quan chuyên môn, tính đến tháng 7 năm 2016, trên địa bàn toàn tỉnh có 1.558 di tích, thuộc nhiều loại hình; trong số đó có 574 di tích được Nhà nước xếp hạng (4 di tích Quốc gia đặc biệt, 194 di tích cấp Quốc gia, 376 di tích cấp Tỉnh). Các di tích Quốc gia đặc biệt (chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích, đền Đô và khu lăng mộ nhà Lý) từng là danh lam cổ tự nổi tiếng trong sử sách và dân gian, nay được Nhà nước xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt. Các kiệt tác di sản văn hóa (tượng Phật A Di Đà chùa Phật Tích, tượng nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp, tượng Tam Thế chùa Linh Ứng, tượng rồng đá đền Lê Văn Thịnh) lập Hồ sơ khoa học và được Nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia. Tỉnh đang tiến hành lập Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị cho các di tích Quốc gia đặc biệt; tiếp tục triển khai các Dự án trùng tu tu bổ các di tích trọng điểm (chùa Bút Tháp, lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, đền Cao Lỗ Vương, chùa Dạm, chùa Bảo Tháp). Đặc biệt, chủ trương “xã hội hóa” trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là sáng tạo, nhanh nhậy và hợp lòng dân, nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của toàn dân: nhiều tổ chức, cá nhân đã công đức hàng nghìn tỷ đồng khôi phục, tu bổ di tích. Các ngôi đền, đình, chùa của các làng xã sau khi trùng tu khang trang, tố hảo, không những trả lại được vẻ đẹp cổ kính thâm nghiêm vốn là “hồn cốt” dân tộc, mà hàng năm nhân dân các làng xã nhộp nhịp, tưng bừng mở lễ hội truyền thống với các hoạt động tâm linh, văn hóa, văn nghệ, thể thao dân gian vui tươi lành mạnh, thu hút mọi người, đặc biệt là các thế hệ trẻ hướng về cội nguồn, đoàn kết cộng đồng, phát huy được những thuần phong mỹ tục của quê hương, đất nước.

 

 

Chạm khắc gỗ Phù Khê (thị xã Từ Sơn).

 

Đối với di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT), từ năm 2009, UNESCO công nhận dân ca Quan họ Bắc Ninh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Chính phủ nước ta cam kết bảo tồn và phát huy giá trị, đặc biệt tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều biện pháp thiết thực để bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca Quan họ. Cùng với dân ca Quan họ, Ca trù được UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Quan họ và Ca trù, ngày 4-7-2013, UBND tỉnh Bắc Ninh có Quyết định số 780/QĐ - UBND về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh và Ca trù giai đoạn 2013-2020” với kinh phí đầu tư gần 65 tỷ đồng. Triển khai tích cực các dự án, đề án trên, tỉnh đã đầu tư trang thiết bị (loa đài âm thanh) cho 45 Câu lạc bộ Quan họ của 44 làng Quan họ gốc; xây dựng 2 chòi hát Quan họ ở khuôn viên chùa Lim, hỗ trợ kinh phí tu bổ cho đình Diềm làng Thủy tổ Quan họ; phục dựng 2 nhà chứa Quan họ ở thôn Lũng Giang và Đương Xá; đi đầu trong việc ban hành cơ chế chính sách tôn vinh và đãi ngộ các nghệ nhân Quan họ, phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân ca Quan họ Bắc Ninh” đợt 1 cho 41 Liền anh, Liền chị Quan họ tiêu biểu; biên soạn giáo trình giảng dạy về dân ca Quan họ cho Trường Trung cấp VHNT&DL và học sinh các cấp (Tiểu học, THCS, PTTH) của tỉnh; hàng năm duy trì Hội thi dân ca quan họ; thành lập Hội những người yêu thích dân ca Quan họ... Đặc biệt, để tôn vinh, quảng bá giá trị văn hóa Quan họ đến đông đảo công chúng trong nước và bạn bè quốc tế, từ năm 2010 đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã liên tiếp tổ chức chương trình Festival “Về miền Quan họ” vào dịp đầu năm với quy mô lớn, thu hút hàng ngàn vạn du khách mọi miền về tham dự.

Công tác kiểm kê DSVHPVT được triển khai tích cực, ưu tiên cho những di sản mang đặc trưng tiêu biểu hoặc đang có nguy cơ mai một thất truyền và tập trung vào ba loại hình di sản chính (lễ hội truyền thống, diễn xướng dân gian và làng nghề truyền thống). Đã kiểm kê được 23 DSVHPVT, trong đó lập hồ sơ khoa học cho 8 DSVHPVT tiêu biểu đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia gồm (tranh dân gian Đông Hồ, hát Trống quân Bùi Xá, nghề Tre trúc Xuân Lai, gò đồng Đại Bái, gốm Phù Lãng, gỗ mỹ nghệ Phù Khê, lễ hội Đồng Kỵ, lễ hội làng Diềm). Trò chơi Kéo co làng Hữu Chấp được lập hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đa quốc gia”. Nhân dân các làng xã là chủ nhân của các DSVHPVT trên được quốc gia và thế giới công nhận đã tưng bừng mở hội đón nhận vinh dự lớn lao này và cam kết nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản của quê hương, đất nước.

Bản sắc văn hóa của quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc là do cộng đồng nhân dân nơi đây sáng tạo, gây dựng, vun đắp lên qua hàng ngàn năm lịch sử, được hội tụ kết tinh và phản ánh ở kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể to lớn, quý giá. Tỉnh Bắc Ninh qua 20 năm đổi mới và phát triển, dẫu còn nhiều việc đòi hỏi các cấp, các ngành, cộng đồng dân cư cùng vào cuộc phải làm; song bản sắc văn hóa của quê hương đất nước, không những được trân trọng gìn giữ, mà còn được phát huy, làm giàu có thêm và tỏa sáng trong thời kỳ đất nước đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa hội nhập quốc tế.

Th.s. Đỗ Thị Thủy (Phòng QLDSVH - Sở VHTTDL Bắc Ninh)
Top